VẤN NẠN ĐỀ TÀI GẤP-CẤT ĐÃ ĐẾN LÚC KẾT THÚC, CHƯƠNG MỚI CHO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ MỞ RA?

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang định hình lại cấu trúc kinh tế toàn cầu, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH, CN & ĐMST) luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Tầm quan trọng của lĩnh vực này được minh chứng qua các chỉ số vĩ mô tích cực: Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam liên tục được cải thiện và duy trì trong top 50 quốc gia đứng đầu thế giới, đồng thời đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong giai đoạn 2016-2020 đã đạt mức 45%. Tuy nhiên, đằng sau những thành tựu vĩ mô đáng ghi nhận ấy là một nghịch lý đã tồn tại dai dẳng qua nhiều thập kỷ, gây nhức nhối trong dư luận và giới hoạch định chính sách: Tình trạng hàng loạt các đề tài nghiên cứu khoa học, các dự án cấp cơ sở, cấp bộ, cấp nhà nước, cùng hàng vạn luận văn, luận án tiến sĩ sau khi được nghiệm thu với kết quả xuất sắc lại trở thành những tập tài liệu vô hồn bị “cất ngăn kéo”.

Thực trạng này hoàn toàn không có khả năng ứng dụng vào thực tiễn đời sống hay sản xuất công nghiệp, không tạo ra bất kỳ sản phẩm thương mại hóa nào, trong khi lại tiêu tốn một lượng khổng lồ ngân sách nhà nước vốn đã eo hẹp. Hậu quả kéo theo không chỉ là sự thất thoát về mặt tài chính mà còn là sự lãng phí vô hình nhưng vô giá về chất xám, thời gian, nguồn lực của quốc gia, đồng thời làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của toàn xã hội vào hệ thống học thuật và bộ máy quản trị khoa học. Ở một chiều hướng hoàn toàn đối lập, khu vực doanh nghiệp đang khát khao tiếp thu các công nghệ lõi, các giải pháp kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế, nhưng lại không thể tiếp cận hoặc không thể ứng dụng các kết quả nghiên cứu từ các viện, trường đại học.

Sự đứt gãy nghiêm trọng giữa bộ phận “cung” – tức là hệ thống nghiên cứu học thuật – và bộ phận “cầu” – tức là thị trường sản xuất và tiêu dùng – đặt ra những câu hỏi mang tính sống còn đối với nền kinh tế tri thức: Đâu là những điểm nghẽn cốt lõi thực sự của hệ thống? Tại sao một quốc gia sở hữu đội ngũ trí thức, giáo sư, tiến sĩ đông đảo lại có tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu thấp đến mức báo động? Và quan trọng hơn cả, những giải pháp nào mang tính đột phá, phi truyền thống có thể giải quyết dứt điểm căn bệnh trầm kha này, chuyển hóa tri thức thành sức mạnh vật chất?

BỨC TRANH TOÀN CẢNH VỀ THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI VIỆT NAM

Để có cái nhìn sâu sắc và định lượng chính xác mức độ trầm trọng của vấn đề, việc đánh giá cần được thực hiện trên các bình diện bao gồm năng lực đầu tư, tỷ lệ thương mại hóa thực tiễn, và chất lượng đầu ra của các công trình nghiên cứu hàn lâm.

Nghịch lý đầu tư ngân sách: Nguồn lực nhỏ giọt nhưng lãng phí kép

Nhìn lại chuỗi dữ liệu lịch sử, việc phân bổ ngân sách cho KH&CN ở Việt Nam luôn ở mức khiêm tốn nhưng lại gánh vác những kỳ vọng to lớn. Trong quá khứ, giai đoạn 2000-2004, ngân sách nhà nước đầu tư cho KH&CN từng đạt mức 2% tổng chi ngân sách và tương đương khoảng 0,52% GDP. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình đầu tư dường như đang gặp phải những giới hạn cấu trúc nghiêm trọng. Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho KH&CN có xu hướng giảm dần, từ 1,18% năm 2017 xuống 1,01% năm 2022 và chỉ còn 0,82% vào năm 2023. Đáng chú ý, tỷ lệ đầu tư cho Nghiên cứu và Phát triển (R&D) của Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 0,44% GDP. Con số này bằng khoảng 1/4 so với mục tiêu đặt ra là 2%, và thấp hơn rất nhiều so với mức 1,7% của Trung Quốc, 3,6% của Hàn Quốc, cũng như mức trung bình của thế giới vào năm 2021 là 2,62%.

Bất chấp nguồn vốn đầu tư thấp và mang tính “nhỏ giọt”, khả năng hấp thụ vốn của hệ thống lại thể hiện sự yếu kém đáng lo ngại. Kiểm toán Nhà nước từng chỉ ra rằng, phần ngân sách ít ỏi này thường xuyên bị phân bổ một cách dàn trải, thiếu tập trung, xuất hiện tình trạng trùng lặp đề tài nghiên cứu, hoặc chi cho những hoạt động mang tính hình thức, không tạo ra hàm lượng học thuật sâu sắc hay giá trị thực tiễn nào đối với nền kinh tế. Một số dự án, như dự án Chuẩn đo lường quốc gia 2016-2020, đã phải xin dừng triển khai giữa chừng do không tiên lượng hết sự thay đổi chóng mặt về công nghệ, dẫn tới dự toán vượt tổng mức đầu tư và hệ thống chuẩn đo lường trở nên lỗi thời. Việc quản lý và sử dụng tài sản nhà nước trong KH&CN cũng bộc lộ sự chậm trễ, khi đến năm 2021 mới chỉ hoàn thành sắp xếp 14 trên tổng số 44 cơ sở nhà đất.

Ở khối doanh nghiệp, việc đầu tư cho nghiên cứu nhằm đổi mới công nghệ cũng chưa được coi trọng đúng mức. Các thống kê trong quá khứ chỉ ra tỷ lệ đầu tư cho NCKH trên tổng doanh thu của doanh nghiệp có thời điểm chỉ đạt mức 0,26%, trong đó phần lớn ngân sách doanh nghiệp (khoảng 92%) được chi cho việc đổi mới công nghệ mua sẵn từ bên ngoài, thay vì đầu tư cho hoạt động R&D nội sinh (chỉ chiếm khoảng 8%). Sự lãng phí ngân sách kép diễn ra ở chỗ: Nhà nước đầu tư tiền để tạo ra công nghệ nhưng không sử dụng được, trong khi doanh nghiệp lại tiêu tốn ngoại tệ để nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài thay vì tận dụng tri thức nội địa.

Sự đứt gãy giữa phòng thí nghiệm và thương trường

Mặc dù thị trường khoa học công nghệ nước ta có nguồn cung sản phẩm nghiên cứu tương đối đa dạng với tốc độ tăng giá trị giao dịch bình quân hàng năm đạt 22%, nhưng tỷ lệ thương mại hóa thực tế của các đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước lại nằm ở mức “đáy”. Cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học công nghệ hiện đang lưu giữ thông tin của hơn 22.500 đề tài, nhiệm vụ đã được nghiệm thu. Thế nhưng, theo các số liệu thống kê tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) – trung tâm kinh tế và khoa học công nghệ lớn mạnh nhất cả nước – tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ hình thành từ ngân sách nhà nước chỉ đạt vỏn vẹn khoảng 5% tổng số lượng nhiệm vụ.

Doanh thu mang lại từ hoạt động khai thác tài sản trí tuệ vô cùng thấp, và giá trị hợp đồng từ chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm chỉ chiếm khoảng 30% so với tổng ngân sách chi cho lĩnh vực KH&CN. Phần lớn các nghiên cứu không thể vượt qua được “Thung lũng chết” – một thuật ngữ kinh tế học chỉ giai đoạn chuyển tiếp đầy rủi ro từ một mô hình quy mô phòng thí nghiệm sang quy trình sản xuất công nghiệp hóa. Các viện nghiên cứu, trường đại học sở hữu hàng loạt công nghệ, bằng sáng chế nhưng lại loay hoay trong việc quản lý, khai thác tài sản trí tuệ và gặp bế tắc trong quá trình tiếp cận, thuyết phục doanh nghiệp đầu tư.

Khủng hoảng chất lượng học thuật: Vấn nạn “lò ấp tiến sĩ”

Một thành tố khổng lồ đóng góp vào kho tàng “tài liệu cất ngăn kéo” chính là hàng vạn luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ được bảo vệ thành công mỗi năm nhưng không mang lại bất cứ một hàm lượng khoa học, tính mới, hay giá trị thực tiễn nào. Biểu hiện rõ nét nhất của cuộc khủng hoảng chất lượng này là vụ việc tại Học viện Khoa học Xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), nơi từng bị dư luận xã hội và báo giới gán cho danh xưng “lò ấp tiến sĩ”. Các thống kê cho thấy, chỉ tính riêng trong giai đoạn 2015-2016, cơ sở này đã “cho ra lò” 700 tiến sĩ và 2.811 thạc sĩ. Đáng kinh ngạc hơn, nếu tính riêng năm 2015 với 165 tiến sĩ được cấp bằng và chia theo ngày làm việc, thì trung bình cứ 1 ngày 3 giờ 55 phút lại có một tân tiến sĩ bước ra khỏi Học viện.

Các kết luận từ Thanh tra Chính phủ và Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) đã phơi bày hàng loạt sai phạm mang tính hệ thống và cấu trúc tại các cơ sở đào tạo kiểu này. Cụ thể, có tình trạng phân công người hướng dẫn nghiên cứu sinh không cùng chuyên ngành (ví dụ tiến sĩ kinh tế hướng dẫn nghiên cứu sinh quản lý giáo dục), một giảng viên hướng dẫn số lượng nghiên cứu sinh vượt quá quy định cho phép tại cùng một thời điểm, và việc thành lập hội đồng đánh giá luận văn bao gồm các thành viên không đúng chuyên môn. Hậu quả của quy trình dễ dãi và thiếu liêm chính này là sự ra đời của những đề tài luận án phi thực tế, ngô nghê, thiếu am hiểu cơ bản về thực tiễn (điển hình như việc một nghiên cứu sinh nhận định sai lệch hoàn toàn về môi trường sinh thái của cá ngát và trái bần ở khu vực Bến Tre).

Bản chất của các luận án này hoàn toàn không hướng tới việc khám phá tri thức mới hay giải quyết các bài toán bức thiết của xã hội. Thay vào đó, chúng chỉ nhằm phục vụ nhu cầu làm đẹp hồ sơ, thăng quan tiến chức của một bộ phận cán bộ công chức, viên chức. Khi học vị trở thành nấc thang cho danh lợi chính trị và hành chính thay vì sự tôn nghiêm của học thuật, thì việc luận án “nằm chết” trong các thư viện hay “cất tủ” là một hệ quả hiển nhiên. Việc đầu tư của nhà nước, bao gồm thời gian đào tạo, cơ sở vật chất, và ngân sách chi trả cho đội ngũ này, trở thành một sự lãng phí tài nguyên quốc gia không thể chấp nhận được.

PHÂN TÁCH CĂN NGUYÊN: HỆ THỐNG MIỄN DỊCH HỌC THUẬT LỖI NHỊP

Hiện tượng nghiên cứu khoa học không có giá trị ứng dụng không phải là lỗi đơn lẻ của một vài cá nhân nhà khoa học, mà là biểu hiện lâm sàng của một hệ thống quản trị khoa học công nghệ đang hoạt động sai lệch. Phân tích một cách có hệ thống, các nguyên nhân cốt lõi có thể được chia thành những nhóm rào cản chính sau đây.

“Mạng nhện” pháp lý và tư duy quản lý tài sản công cứng nhắc

Sự tắc nghẽn lớn nhất trong việc khơi thông thị trường khoa học công nghệ hiện nay là hệ thống chính sách pháp luật được xây dựng ở các thời kỳ khác nhau, dưới lăng kính quản lý của các bộ, ngành khác nhau, dẫn đến sự thiếu nhất quán, phân mảnh và chồng chéo nghiêm trọng. Theo các nhà quản lý, các kết quả nghiên cứu khoa học muốn bước từ phòng thí nghiệm ra thị trường hiện đang vấp phải “mạng nhện” của 13 đạo luật khác nhau (bao gồm Luật Ngân sách, Luật Đấu thầu, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Quản lý và sử dụng tài sản công, Luật Viên chức, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp…) cùng với vô số các văn bản dưới luật (Nghị định, Thông tư).

Trong đó, điểm nghẽn mang tính “tử huyệt” nằm ở các quy định về quản lý tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước, cụ thể là Nghị định 70/2018/NĐ-CP và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017. Theo tư duy quản lý truyền thống, bất kỳ sản phẩm nào hình thành từ đề tài nghiên cứu có sử dụng vốn ngân sách đều tự động được xem là tài sản công, thuộc quyền sở hữu tuyệt đối của nhà nước. Tư duy này dẫn đến một chuỗi các hệ lụy mang tính bế tắc liên hoàn:

Đầu tiên là sự bế tắc trong việc xác định quyền sở hữu và định giá tài sản trí tuệ. Để chuyển giao một kết quả nghiên cứu cho doanh nghiệp ứng dụng, tài sản đó bắt buộc phải được định giá theo quy trình định giá tài sản công. Tuy nhiên, sản phẩm nghiên cứu khoa học là một loại tài sản vô hình đặc thù, mang tính rủi ro cực cao và giá trị của nó phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng hấp thụ của thị trường ở các thời điểm khác nhau. Việc bắt buộc phải định giá chính xác (nhằm không làm thất thoát ngân sách nhà nước) gần như là nhiệm vụ “bất khả thi”. Điều này dẫn đến sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan, không ai dám quyết định mức giá, và không cơ quan quản lý nào dám tiếp nhận hay phê duyệt kết quả định giá.

Thứ hai, cơ chế phân chia lợi ích và bồi hoàn tài chính đã triệt tiêu hoàn toàn động lực của các bên tham gia. Quy định yêu cầu khi doanh nghiệp hoặc tổ chức muốn thương mại hóa kết quả nghiên cứu, họ phải hoàn trả lại toàn bộ hoặc một tỷ lệ lớn số tiền mà nhà nước đã tài trợ ban đầu. Quy định này đi ngược lại hoàn toàn với bản chất đầu tư mạo hiểm của KH&CN. Từ góc độ doanh nghiệp, họ thà bỏ tiền mua công nghệ hoàn chỉnh từ nước ngoài còn hơn phải gánh chịu rủi ro mua lại một nghiên cứu thô (TRL 3-4) từ trường đại học, tự bỏ chi phí khổng lồ để hoàn thiện, rồi lại phải gánh thêm chi phí bồi hoàn cho ngân sách nhà nước. Về phía nhà khoa học, họ chỉ được hưởng tỷ lệ lợi nhuận rất thấp (chỉ khoảng 15-20% theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, so với mức 30% lý thuyết trước đây) khiến động lực đưa nghiên cứu ra thị trường gần như bằng không.

Thứ ba, sự xung đột trong việc hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off). Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép các pháp nhân góp vốn bằng tài sản trí tuệ, nhưng các văn bản dưới luật lại không cung cấp cơ chế hướng dẫn định giá tài sản trí tuệ để đăng ký kinh doanh. Hơn nữa, Luật Viên chức 2010 nghiêm cấm viên chức được trực tiếp tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp. Hệ quả là các nhà khoa học đang công tác tại các trường đại học, viện nghiên cứu công lập không thể tự đứng ra thành lập doanh nghiệp spin-off để tự tay ươm tạo và thương mại hóa “đứa con tinh thần” của chính mình.

Áp lực hành chính khổng lồ và quy trình mua sắm công lạc hậu

Một nguyên nhân sâu xa khác khiến các đề tài trở nên xa rời thực tiễn là môi trường hành chính, quản lý tài chính bóp nghẹt sự sáng tạo. Các quy định về phê duyệt đề tài, giải ngân kinh phí, lưu trữ hóa đơn chứng từ, và đặc biệt là mua sắm thiết bị, hóa chất vật tư mang nặng tính kế hoạch hóa tập trung, dẫn đến sự cứng nhắc và chậm trễ kéo dài.

Hoạt động KH&CN biến đổi từng ngày, thiết bị công nghệ mới xuất hiện và thay thế liên tục. Tuy nhiên, quy trình mua sắm công, lập kế hoạch ngân sách và tổ chức đấu thầu lại kéo dài và tuân theo các định mức kinh tế kỹ thuật cố định. Khi nhà khoa học xây dựng kế hoạch mua sắm và chờ được phê duyệt, có khi công nghệ đó đã thay đổi giá hoặc bị lỗi thời trên thị trường. Việc này buộc họ phải làm lại toàn bộ quy trình từ đầu, gây lãng phí nghiêm trọng thời gian. Bên cạnh đó, các nhà khoa học thiếu kỹ năng nghiệp vụ hành chính nhưng lại bị biến thành các “kế toán viên” bất đắc dĩ, phải tự mình lo liệu các quy trình đấu thầu, tìm kiếm báo giá, giải trình hóa đơn chứng từ hợp lệ, chịu trách nhiệm pháp lý nếu có sai sót. Điều này khiến phần lớn quỹ thời gian quý báu của họ bị bào mòn vào các thủ tục giấy tờ thay vì tập trung cho công tác chuyên môn.

Từ những rào cản khổng lồ về hành chính và mua sắm công, hệ thống học thuật dần hình thành một “phản ứng tự vệ sinh học”. Để né tránh rủi ro thanh quyết toán, các nhà nghiên cứu có xu hướng không đăng ký các đề tài mang tính ứng dụng thực nghiệm (do các đề tài này đòi hỏi mua sắm nhiều linh kiện, chế tạo mẫu thử phức tạp, tỷ lệ hỏng hóc cao và khó giải trình hóa đơn). Thay vào đó, họ chuyển sang các đề tài “an toàn”: nghiên cứu lý thuyết, mô phỏng trên máy tính, hoặc phân tích số liệu thứ cấp. Các đề tài như vậy cực kỳ dễ dàng để thanh quyết toán, an toàn tuyệt đối về mặt pháp lý hành chính, nhưng hệ quả tất yếu là nó chỉ có giá trị trên mặt giấy và buộc phải “cất ngăn kéo” ngay sau khi hội đồng nghiệm thu.

Đứt gãy chuỗi cung cầu, tư duy “hàn lâm hóa” và vấn đề cấp độ sẵn sàng công nghệ (TRL)

Nguyên nhân thứ ba thuộc về hệ thống tư duy định hướng nghiên cứu. Việc xác định đề tài hiện nay thường đi theo chiều “cung” – nghĩa là các nhà khoa học thấy mình có năng lực nghiên cứu cái gì thì đề xuất cái đó, thay vì đi theo chiều “cầu” – doanh nghiệp và xã hội đang thực sự cần giải quyết bài toán gì.

Theo một báo cáo, mới chỉ có khoảng 4% số trường đại học tại Việt Nam có hợp tác nghiên cứu với doanh nghiệp, và chưa tới 30% có hợp tác giảng dạy. Doanh nghiệp không chủ động đặt hàng vì thiếu niềm tin vào tính thực tiễn của giới hàn lâm, sợ rủi ro và không có ngân sách. Ngược lại, các nhà khoa học lại thiếu tư duy kỹ trị, thiếu sự nhạy bén với thông tin thị trường, dẫn đến sự vắng bóng hoàn toàn của “Người đặt hàng cuối cùng”. Một nghiên cứu về tình hình thu chi ngân sách nhà nước tại TP.HCM (giai đoạn 2017-2018) cho thấy các đề tài lĩnh vực kinh tế – tài chính có tỷ lệ ứng dụng thực tế sụt giảm mạnh mẽ (giảm 27% so với năm 2013), chứng tỏ các nghiên cứu đã không còn bám sát vào hơi thở của sự phát triển kinh tế hội nhập.

Hơn nữa, tư duy định giá sai lầm về Cấp độ sẵn sàng công nghệ (TRL – Technology Readiness Level) là một trở ngại lớn. Các nhà khoa học thường nhầm tưởng rằng một mô hình hoạt động được trong môi trường phòng thí nghiệm (tương đương TRL 3 hoặc TRL 4) đã là một sản phẩm hoàn chỉnh, có giá trị cao và có thể bán ngay cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ sẵn sàng trả tiền cho những công nghệ đã được chứng minh trong môi trường thực tế, có khả năng sản xuất hàng loạt (TRL 7 đến TRL 9). Khoảng cách từ TRL 4 đến TRL 7 đòi hỏi nguồn vốn đầu tư cực lớn để hoàn thiện kỹ thuật, tối ưu hóa vật liệu, và thiết kế kiểu dáng công nghiệp. Hiện tại, không ai (cả nhà nước, nhà trường, lẫn doanh nghiệp) sẵn sàng chi trả phí tổn cho khoảng trống này, dẫn đến các giải pháp công nghệ rơi vào bế tắc.

Sự khan hiếm văn hóa liêm chính khoa học và rào cản đào tạo

Đối với nhóm đề tài là các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và nghiên cứu khoa học sinh viên (nhóm đóng góp một lượng lớn vào khối tài liệu cất ngăn kéo), nguyên nhân chủ yếu nằm ở môi trường giáo dục thiếu tính chọn lọc và sự khủng hoảng trong tiêu chuẩn chất lượng.

Ở bậc đại học, sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học vấp phải vô vàn khó khăn về thời gian, năng lực xử lý số liệu, kỹ năng sử dụng văn phong khoa học, hạn chế tài chính, và nỗi sợ trình bày trước hội đồng. Việc tiếp cận các cơ sở dữ liệu quốc tế còn tốn kém, cùng với rào cản ngoại ngữ khiến các đề tài của sinh viên và học viên thường lặp lại những kiến thức sách vở cũ kỹ, thiếu tính mới. Tuy nhiên, thay vì đầu tư hướng dẫn khắt khe, nhiều cơ sở đào tạo lại chấp nhận hạ chuẩn để duy trì số lượng đầu vào nhằm giải quyết bài toán kinh tế của nhà trường.

Ở bậc sau đại học, cuộc tranh luận nảy lửa liên quan đến việc ban hành Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT (Quy chế 2021) thay thế Thông tư 08/2017/TT-BGDĐT về đào tạo tiến sĩ đã bộc lộ sự giằng xé trong việc định vị chuẩn mực học thuật của Việt Nam. Quy chế 2017 trước đây yêu cầu nghiên cứu sinh bắt buộc phải có tối thiểu 2 bài báo công bố, trong đó ít nhất 1 bài trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục uy tín (ISI/Scopus). Tiêu chuẩn này từng được xem là một bộ lọc mạnh mẽ, giúp ngăn chặn triệt để tình trạng “tiến sĩ rởm”. Tuy nhiên, Quy chế 2021 lại nới lỏng yêu cầu này, loại bỏ tiêu chuẩn bắt buộc công bố quốc tế và cho phép thay thế bằng các bài báo trên tạp chí khoa học trong nước đạt từ 0,75 điểm trở lên theo khung đánh giá của Hội đồng Giáo sư Nhà nước.

Mặc dù những người ủng hộ lập luận rằng việc hạ chuẩn là cần thiết để phù hợp với thực tiễn các ngành Khoa học xã hội và Nhân văn, đồng thời giảm bớt gánh nặng tài chính (khi một bài ISI có thể tốn từ vài nghìn USD phí xuất bản đến hàng trăm triệu USD phí “chạy bài”), giới hàn lâm lại bày tỏ sự lo ngại sâu sắc. Họ chỉ ra rằng trong số hơn 600 tạp chí khoa học nội địa, số lượng tạp chí đạt chuẩn quốc tế là cực kỳ ít ỏi. Nhiều tạp chí đạt 0,75 điểm nhưng quy trình xuất bản lại lỏng lẻo, không có phản biện kín, không có chỉ số DOI, và không được quốc tế công nhận. Việc loại bỏ áp lực công bố quốc tế kết hợp với năng lực giám sát độc lập yếu kém trong nước tạo ra một môi trường màu mỡ cho việc “mua bán bài báo”, đạo văn, và khiến các “lò ấp tiến sĩ” có nguy cơ hồi sinh mạnh mẽ. Khi việc đòi hỏi “liêm chính tự nguyện” trở nên xa vời, các luận án sao chép lẫn nhau và không có giá trị học thuật trở thành một vấn nạn tất yếu.

CÁC TRỤ CỘT GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC KHƠI THÔNG NGUỒN LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Để giải bài toán hóc búa “đề tài cất ngăn kéo”, một hệ thống các giải pháp chắp vá sẽ không mang lại hiệu quả. Quốc gia đòi hỏi một cuộc đại phẫu toàn diện về mặt thể chế pháp lý, thay đổi tận gốc triết lý quản trị tài chính công, thiết lập cầu nối thực chất dựa trên cơ sở kinh tế thị trường, và xây dựng lại nền tảng liêm chính học thuật. Dưới đây là cấu trúc các nhóm giải pháp mang tính đột phá và cách mạng.

Cách mạng thể chế: giải phóng rủi ro khoa học và quản lý theo đạt chuẩn đầu ra

Bản chất tối thượng của nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là hành trình thám hiểm vào những vùng tri thức chưa biết, do đó, rủi ro và xác suất thất bại là một thuộc tính hiển nhiên. Tư duy quản lý cho rằng “đầu tư ngân sách là phải có sản phẩm thành công tuyệt đối, nếu thất bại là gây lãng phí và vi phạm pháp luật” chính là sợi dây thòng lọng siết chết sự sáng tạo.

Bước ngoặt lịch sử để tháo gỡ điểm nghẽn này chính là sự ra đời của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 (chính thức có hiệu lực từ ngày 01/10/2026), thay thế cho Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13. Đạo luật này đánh dấu một bước chuyển mình vĩ đại về triết lý quản trị nhà nước với các điểm nhấn cốt lõi:

1) Cơ chế chấp nhận rủi ro và “phi hình sự hóa”: Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, luật pháp Việt Nam quy định rõ ràng việc mở rộng phạm vi miễn trách nhiệm. Cụ thể, các cá nhân, tổ chức tham gia nghiên cứu khoa học nếu gặp rủi ro thất bại sẽ được xem xét miễn trách nhiệm dân sự, hành chính, và đặc biệt là có thể được miễn cả trách nhiệm hình sự (theo Điều 9 của Luật), miễn là họ đã tuân thủ đầy đủ và trung thực các quy trình nghiên cứu, không có tư lợi cá nhân hay hành vi gian lận. Tư duy này giúp dỡ bỏ hoàn toàn “bóng ma” tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, khuyến khích đội ngũ tinh hoa dấn thân vào các lĩnh vực công nghệ sâu ẩn chứa rủi ro lớn nhưng đem lại giá trị cạnh tranh quốc gia cao.

2) Đổi mới sáng tạo trở thành hạt nhân: Lần đầu tiên khái niệm “Đổi mới sáng tạo” được pháp điển hóa ngang hàng với khoa học và công nghệ. Luật xác lập nguyên tắc chuyển đổi tư duy từ “khoa học đi trước, ứng dụng theo sau” sang lấy thị trường và sản phẩm làm trung tâm động lực.

3) Quản lý theo nguyên tắc “Hậu kiểm” và số hóa: Nhà nước sẽ xóa bỏ các thủ tục hành chính tiền kiểm rườm rà. Việc quản lý sẽ áp dụng mạnh mẽ chuyển đổi số, thiết lập các nền tảng cơ sở dữ liệu quốc gia, và tập trung đánh giá kết quả đầu ra thực tế thay vì can thiệp vào phương pháp và hóa đơn chứng từ trong quá trình thực hiện. Các nghiên cứu về AI và công nghệ sinh học sẽ được khuyến khích nhưng phải đặt dưới sự kiểm soát an toàn của con người.

Tháo gỡ gông cùm tài sản công: triển khai mô hình Đạo luật Bayh-Dole

Để giải quyết triệt để sự bế tắc của Nghị định 70/2018/NĐ-CP và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Việt Nam cần nghiên cứu và áp dụng các cơ chế tương tự như Đạo luật Bayh-Dole (Bayh-Dole Act) được Hoa Kỳ ban hành năm 1980. Đạo luật này được giới phân tích kinh tế đánh giá là công cụ pháp lý đã cứu vớt và định hình toàn bộ nền công nghiệp thương mại hóa khoa học của Mỹ.

Cốt lõi của triết lý Bayh-Dole là: Nhà nước tài trợ kinh phí từ ngân sách liên bang cho nghiên cứu, nhưng chủ động từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ (IP) hình thành từ nghiên cứu đó. Quyền sở hữu IP được giao thẳng và toàn vẹn cho các tổ chức chủ trì (như trường đại học, viện nghiên cứu) hoặc các doanh nghiệp quy mô nhỏ.

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 cũng đã bước đầu cụ thể hóa quan điểm này khi lần đầu tiên bổ sung Điều 8a, xác định quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản có thể tự quản trị nội bộ, dùng để thế chấp, góp vốn, và giao dịch thương mại. Việc trao quyền tự quyết hoàn toàn cho các tổ chức chủ trì sẽ giải phóng các sản phẩm công nghệ khỏi những “ngăn kéo” phòng thí nghiệm, thúc đẩy sự hình thành của các mạng lưới Văn phòng chuyển giao công nghệ (Technology Transfer Offices – TTOs) chuyên nghiệp như mô hình của Đại học Stanford cấp phép công nghệ lõi cho Google thời kỳ khởi nghiệp.

Đẩy mạnh các “Sandbox” cơ chế: Điểm sáng từ đề án thí điểm của TP.HCM

Việc chuyển hóa các bộ luật vĩ mô vào thực tiễn luôn cần có những khu vực thử nghiệm chính sách (Sandbox). Đề án thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học của Thành phố Hồ Chí Minh (áp dụng trong giai đoạn 2026-2028) chính là một ngọn cờ đầu mang tính cách mạng. Thành phố đã công bố danh mục 54 sản phẩm từ 29 tổ chức tham gia với tổng kinh phí lên tới hơn 500 tỷ đồng (trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 200 tỷ đồng) để thực thi các cơ chế đột phá.

Các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn cốt lõi trong Đề án này bao gồm:

– Đột phá cơ chế giao quyền lấy doanh nghiệp làm trung tâm: Đề án tháo gỡ trực tiếp “nút thắt” tài sản công: Trong mô hình hợp tác, nếu doanh nghiệp tham gia đồng tài trợ (ví dụ doanh nghiệp bỏ 70% vốn, nhà nước hỗ trợ 30%), quyền sở hữu kết quả nghiên cứu sẽ được giao hoàn toàn cho doanh nghiệp, và doanh nghiệp không cần phải bồi hoàn tỷ lệ vốn cho nhà nước. Điều này lập tức kích thích lòng tham và động lực đầu tư của khối tư nhân.

– Chia sẻ rủi ro tài chính tại thung lũng chết: Nhận thức được rào cản TRL, Thành phố cam kết hỗ trợ kinh phí trực tiếp (lên đến 50%) cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm và bảo hộ tài sản trí tuệ. Quan trọng hơn, TP.HCM cho phép sử dụng tổng chi phí R&D làm giá sàn pháp lý ban đầu để giao dịch, giúp xóa bỏ tâm lý sợ định giá sai của các cán bộ quản lý.

– Chấp nhận và quản trị rủi ro (Sandbox): TP.HCM cam kết bảo vệ các tổ chức, cá nhân dám nghĩ dám làm, không hình sự hóa các rủi ro khách quan trong quá trình thương mại hóa.

Mục tiêu của TP.HCM là đưa ít nhất 10 sản phẩm khoa học công nghệ Made in Vietnam ra thị trường và nâng tỷ lệ khai thác thương mại lên mức 8-10%. Thành công từ mô hình thí điểm này sẽ là luận cứ thực tiễn không thể bác bỏ để tiến tới “quốc gia hóa” các quy định, đưa cơ chế này trở thành luật định chung áp dụng đồng bộ trên toàn quốc, chấm dứt kỷ nguyên “đề tài cất tủ”.

Sử dụng đòn bẩy thuế và thiết lập mạng lưới quỹ mạo hiểm

Doanh nghiệp phải được định vị lại, không chỉ là người mua công nghệ thụ động mà là trung tâm quyền lực của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nguồn lực ngân sách không nên chỉ phân bổ trực tiếp cho các trường đại học, mà cần định hướng dành khoảng 70-80% ngân sách KH&CN để hỗ trợ thông qua hệ thống doanh nghiệp.

– Ưu đãi thuế đột phá: Cần thực thi quyết liệt Điều 35 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025. Theo đó, chi phí tài trợ của doanh nghiệp cho hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ sẽ được khấu trừ mạnh mẽ (theo tỷ lệ phần trăm ưu đãi trên chi phí thực tế) khi xác định thu nhập chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Cơ chế này tạo động lực tài chính khổng lồ để dòng vốn tư nhân ào ạt chảy ngược vào hệ thống nghiên cứu của các trường đại học. Luật cũng quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với 3 khoản thu nhập đặc thù liên quan đến KH, CN & ĐMST, tạo thêm động lực cho các nhà nghiên cứu.

– Kích hoạt quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital) Quốc gia: Thay vì cấp phát ngân sách theo kiểu xin-cho truyền thống, Nhà nước cần thiết lập các Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và địa phương. Kinh phí ngân sách nhà nước cho KH&CN (với tầm nhìn hướng tới việc chi 3-4 tỷ USD/năm, hoặc duy trì tối thiểu 2% tổng chi ngân sách) cần được phân bổ một tỷ lệ lớn (khoảng 10-11% của ngân sách KHCN) vào hoạt động đầu tư trực tiếp. Nhà nước khi này sẽ đóng vai trò như một quỹ thiên thần (Angel Investor) cấp vốn mồi (seed funding) cho các startup công nghệ, sẵn sàng chấp nhận tỷ lệ thất bại cao đổi lấy cơ hội kiến tạo nên những kỳ lân công nghệ (Unicorns) làm thay đổi vị thế quốc gia. Ngành KHCN được kỳ vọng sẽ tạo ra doanh thu 5,465 triệu tỷ đồng và đóng góp trực tiếp vào GDP đạt 1,4 triệu tỷ đồng vào năm 2025 nếu các nguồn lực được khơi thông.

Thiết lập kỷ cương học thuật và tái cấu trúc khung đào tạo sau đại học

Để xử lý dứt điểm mảng “đề tài cất ngăn kéo” xuất phát từ sự yếu kém của hệ thống giáo dục sau đại học, giải pháp không nằm ở việc rà soát lại hàng ngàn văn bằng cũ một cách hình thức, mà là phải thiết lập một bộ lọc chất lượng tàn nhẫn ngay từ hiện tại và định hướng lại triết lý đào tạo.

– Đập bỏ triệt để các “lò ấp tiến sĩ”: Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ GD-ĐT) phải thực hiện thanh tra độc lập và xử lý nghiêm khắc, kiên quyết đình chỉ hoạt động tuyển sinh đối với các cơ sở đào tạo vi phạm quy định, không đảm bảo chất lượng, có tỷ lệ giảng viên hướng dẫn vượt quy định, hoặc năng lực hội đồng phản biện yếu kém. Việc bảo vệ sự trong sạch, tôn nghiêm của học thuật phải được coi trọng hơn việc chạy theo các báo cáo thành tích bề nổi.

– Tích hợp tiêu chuẩn đánh giá đầu ra theo hướng thực chất: Để giải quyết cuộc khủng hoảng tiêu chuẩn giữa Quy chế 2017 và Quy chế 2021, các hội đồng học thuật cần thống nhất một triết lý đánh giá kép: (1) Khuyến khích mạnh mẽ việc công bố trên các hệ thống tạp chí quốc tế uy tín (ISI/Scopus) nhằm bảo đảm tính hội nhập và có một bộ lọc khách quan; và (2) Chấp nhận thay thế nếu đề tài luận án đó trực tiếp giải quyết được một bài toán công nghệ đặc thù của địa phương hoặc doanh nghiệp Việt Nam, được doanh nghiệp nghiệm thu, chuyển giao công nghệ thành công và tạo ra doanh thu thực tế. Giá trị đóng góp cho xã hội (impact) phải là thước đo cuối cùng của một công trình tiến sĩ.

– Khắc phục sự lãng phí và trùng lặp trong nghiên cứu: Cần xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất, mạnh mẽ, ứng dụng Trí tuệ Nhân tạo (AI) để rà quét và kiên quyết loại bỏ từ vòng đề xuất các đề tài có nội dung trùng lặp, “xào xáo” lại từ các nghiên cứu cũ, đặc biệt trong khối nghiên cứu lý luận và khoa học xã hội. Đối với sinh viên và nghiên cứu sinh, hệ thống giáo dục cần nâng cấp hạ tầng học liệu, đồng thời tăng cường đào tạo phương pháp nghiên cứu, kỹ năng tìm kiếm tài liệu quốc tế và ngoại ngữ để thu hẹp khoảng cách với tri thức toàn cầu.

**

Vấn nạn “đề tài cất ngăn kéo” và sự bùng nổ của các “luận án giấy” hoàn toàn không phải là một căn bệnh nan y không thể cứu chữa. Nó là kết quả cộng gộp của một chuỗi các cơ chế quản lý không đồng bộ, tư duy e ngại rủi ro của hệ thống công quyền, quy định tài chính vướng mắc về tài sản công, và sự đứt gãy nghiêm trọng trong liên kết giữa hệ thống học thuật và thương trường. Sự lãng phí nguồn lực tinh hoa này đang trực tiếp kéo lùi năng lực cạnh tranh của quốc gia trong một kỷ nguyên số, nơi mà tri thức và Đổi mới sáng tạo được xem là chiếc phao cứu sinh duy nhất để nền kinh tế Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

Để khơi thông và chuyển hóa nguồn lực trí tuệ này thành động lực vật chất, Việt Nam đang đứng trước một thời cơ chuyển mình mang tính lịch sử. Việc ban hành Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, cùng với việc triển khai các cơ chế Sandbox táo bạo tại TP.HCM và việc luật hóa quyền tài sản trí tuệ, đang tạo ra những xung lực cực kỳ lạc quan. Khi rào cản về bồi hoàn tài sản công được tháo dỡ, rủi ro học thuật được pháp luật thấu hiểu và bảo vệ, tư duy quản lý chuyển dần từ việc “soi chiếu hóa đơn” sang “đánh giá sản phẩm cuối cùng”, và môi trường giáo dục cương quyết bảo vệ sự liêm chính học thuật; đó chính là lúc các kết quả nghiên cứu sẽ thực sự bước ra khỏi những “ngăn kéo” tối tăm của phòng thí nghiệm. Chúng sẽ hòa mình vào dòng chảy hối hả của nền kinh tế, kiến tạo nên những công nghệ lõi mang tính tự chủ, và đóng góp những giá trị thặng dư to lớn cho sự phồn vinh và thịnh vượng của đất nước./.

Bài viết được đề xuất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *