TICONDEROGA và ARLEIGH BURKE CHỈ HOẠT ĐỘNG ĐƠN TÀU HAY TRONG THÀNH PHẦN BIÊN ĐỘI?

Hiện nay tàu tuần dương lớp Ticonderoga (3 chiếc) và tàu khu trục lớp Arleigh Burke (77 chiếc) là lực lượng tàu chiến mặt nước chủ yếu của Hoa Kỳ, bản thân chúng, mỗi con tàu đều có khả năng phòng không khu vực (hiện đại và nổi trội so với một con tàu phòng không điểm như của Hải quân các nước chưa phát triển). Chúng được thiết kế để khi hoạt động trên biển đều có khả năng độc lập tác chiến, khả năng phòng tàu, phòng không, chống ngầm rất mạnh và vì thế, trong hầu hết mọi trường hợp tác chiến thông thường, không cần ghép thành biên đội với các tàu khác. Tuy nhiên, học thuyết quân sự và tài liệu chiến thuật của Mỹ có đề cập đến SAG (nhóm tác chiến mặt nước).

Một SAG tiêu chuẩn là một biên đội thường gồm 2-3 tàu (kết hợp giữa 1 tàu Ticonderoga và 1-2 tàu Arleigh Burke). Tàu tuần dương Ticonderoga đóng vai trò chỉ huy phòng không và chỉ huy biên đội nhờ lợi thế về không gian CIC (trung tâm chỉ huy chiến đấu) và hai hệ thống radar kiểm soát hỏa lực. Mỗi tàu trong một SAG giãn cách nhau 10-30 hải lý. SAG thường được bố trí theo hình tam giác (chữ V, 2 tàu Arleigh Burke đi trước, Ticonderoga đi sau), hàng ngang hoặc hàng dọc.

Vì là tàu Chỉ huy, Ticonderoga được bố trí ở vị trí được bảo vệ tốt nhất, là trung tâm thu thập và xử lí dữ liệu gửi về.

Arleigh Burke (1-2 tàu) đẩy lên vị trí tiền tiêu, có nhiệm vụ phát hiện tên lửa địch từ sớm nhất có thể, hoặc dùng hệ thống sonar chủ động/thụ động tạo ra một vành đai màn chắn để săn lùng các mục tiêu dưới mặt nước trước khi chúng kịp tiếp cận tàu chỉ huy.

Khi cơ động trong điều kiện tác chiến điện tử, đội hình SAG thường xuyên áp dụng các chiến thuật phát xạ chéo nhằm che giấu lực lượng thực sự. Chỉ 1 tàu duy nhất bật radar SPY-1/SPY-6 để quét mục tiêu (phát xạ), biến nó thành mồi nhử thu hút sự chú ý, 2 tàu còn lại sẽ tắt hoàn toàn radar (duy trì EMCON nghiêm ngặt), đi trong chế độ im lặng điện tử. Khi mục tiêu lọt vào tầm bắn, các tàu im lặng sẽ phóng tên lửa đánh chặn dựa hoàn toàn vào dữ liệu do chiếc tàu bật radar gửi sang. Phương án chiến thuật khác, khi săn ngầm đội hình sẽ không di chuyển đều tốc. Một tàu sẽ chạy tăng tốc độ cao lên phía trước rồi đột ngột tắt máy thả trôi hoặc chạy cực chậm để thả cáp sonar nghe ngóng sự tĩnh lặng dưới biển. Trong lúc đó, các tàu còn lại sẽ tiến lên bảo vệ nó.

Việc Hải quân Mỹ triển khai học thuyết này xuất phát từ những tính toán chiến lược và chiến thuật cụ thể, bao gồm cả những ưu điểm vượt trội lẫn một số giới hạn tác chiến.

Ưu thế của SAG:

– Độc lập tác chiến mà chưa cần triển khai Nhóm tác chiến tàu sân bay (CSG) khổng lồ. Một SAG có thể kiểm soát một vùng biển rộng lớn, buộc đối phương phải phân tán lực lượng trinh sát (ISR) và chia nhỏ hỏa lực để đối phó, qua đó gây quá tải cho hệ thống “chuỗi tiêu diệt” (kill chain) của đối thủ.

– Khối lượng hỏa lực khổng lồ: 1 tàu Ticonderoga sở hữu 122 ống phóng thẳng đứng (VLS Mk 41), trong khi một Arleigh Burke mang theo từ 90 đến 96 ống phóng, tổng cộng một SAG 3 tàu có thể mang theo hơn 300 bệ phóng VLS chứa hỗn hợp tên lửa đánh chặn (SM-2, SM-3, SM-6), tên lửa hành trình tấn công mặt đất (Tomahawk) và tên lửa chống ngầm (VL-ASROC). Mức hỏa lực này tương đương hoặc vượt trội so với toàn bộ lực lượng hải quân của nhiều quốc gia cỡ trung bình.

– Năng lực tác chiến hiệp đồng mạnh mẽ: Sức mạnh của SAG không chỉ nằm ở số lượng tên lửa mà ở sự kết nối mạng lưới, do được tích hợp hệ thống chiến đấu Aegis, các tàu có thể chia sẻ dữ liệu radar thời gian thực. Một tàu Ticonderoga có thể phát hiện và bám sát mục tiêu, sau đó dẫn đường trực tiếp cho tên lửa SM-6 được phóng đi từ tàu Arleigh Burke ở khoảng cách xa hàng chục hải lý, tạo ra một không gian phòng thủ hợp nhất không có điểm mù.

Hạn chế của SAG:

– Thiếu không quân yểm trợ: Dù có trực thăng MH-60R/S hỗ trợ trinh sát và chống ngầm, SAG hoàn toàn thiếu vắng các phi đội tiêm kích (như F/A-18 hay F-35) và máy bay cảnh báo sớm (E-2D Hawkeye). Khi tiến sâu vào vùng rủi ro chống tiếp cận/chống xâm nhập (A2/AD) mà không có ô dù không quân bảo vệ, SAG rất dễ bị tổn thương trước các đợt tấn công bão hòa bằng tên lửa diệt hạm siêu thanh bay thấp.

– Tiêu hao và giảm thọ hạm đội: Mỗi khi tách 3 tàu Aegis cao cấp ra làm một SAG độc lập, Hải quân Mỹ sẽ bị hao hụt lực lượng hộ tống thiết yếu cho các Tàu sân bay hoặc Nhóm tác chiến đổ bộ (ESG). Hiện tại, các tàu tuần dương Ticonderoga đang trong giai đoạn lão hóa, chi phí duy tu lớn và đang bị loại biên dần. Việc thiếu hụt các nền tảng cỡ lớn có đủ khả năng chỉ huy phòng không khiến việc duy trì các SAG chuẩn mực gặp nhiều áp lực về mặt phân bổ lực lượng./.

Bài viết được đề xuất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

[instagram-feed]